Quản lý và xử lý bùn thải ở nước ta - Những thách thức và cơ hội - Western Filter Technology Co., Ltd

Quản lý và xử lý bùn thải ở nước ta – Những thách thức và cơ hội

   1.   Vấn đề quản lý và xử lý bùn thải ở nước ta.

Nhận thức được tầm quan trong của công tác quản lý bùn thải từ hệ thống thoát nước và các công trình vệ sinh, từ ngày 19 đến ngày 21/1/2014 đã diễn ra Hội nghị quốc lần thứ 3 về “Quản lý bùn thải từ hệ thống thoát nước và các công trình vệ sinh – FSM3-2015” tại Hà Nội.

Hội nghị quốc lần thứ 3 về “Quản lý bùn thải từ hệ thống thoát nước và các công trình vệ sinh – FSM3-2015” tại Hà Nội.

Hiện nay, việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải đặc biệt bùn thải từ hệ thống thoát nước và các công trình vệ sinh trong đô thị đã và đang trở thành bài toán khó đối với các nhà quản lý ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

     2. Những thách thức và cơ hội.

Tốc độ đô thi hóa nhanh và sự phát triển nhanh chóng của các đô thị vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với cá cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung đặc biệt hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị.

Tốc độ đô thị hóa nhanh và sự phát triển nhanh chóng của các đô thị đang là sức ép to lớn lên cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đặc biệt hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, đến năm 2018, hệ thống đô thi Việt Nam có khoảng 819 đô thị, trong đó có 2 độ thị đặc biệt, 19 đô thị lại I, 23 độ thị loại 2, 45 đô thị loại III, 83 đô thị loại IV và còn lại là đô thi loại V. Tình trạng úng đô thi ở rất nhiều nơi, nước thải chưa qua xử lý xả thẳng ra ngoài tiếp nhận gây ô nhiêm môi trường, ô nhiễm nguồn nước cấp cho sinh hoạt.

Tại các đô thị Việt Nam hiện nay, hầu hết các hộ gia đình sử dụng hệ thông vệ sinh tại chỗ chủ yếu là các bể tự hoại, một số khu vực và đường phố có bố trí các nhà vệ sinh công cộng cả từ mạng lười đường ống thoát nước được thông hút/nạo vét, thu gom và vận chuyển chưa qua xử lý đổ thẳng ra mương, hồ hoặc bãi chôn lấp cùng với các loại rác thải đô thị. Bên canh đó viêc quản lý bùn thải từ các công trình này chưa được quan tâm đúng mức và hiện nay chưa có đô thị nào có biện pháp quản lý và xử  lý phù hợp.

Quy hoạch đô thị, quy hoạch thoát nước và quy hoạch xử lý chất thải chưa thực sự quan tâm đến việc thu gom, vận chuyển cũng như việc xác định các vị trí, địa điểm xử lý bùn thải từ hệ thống thoát nước và các công trình vệ sinh. Cho đến nay 60/63 tỉnh đã phê duyệt cũng như quy hoạch xaayy dựng vùng tỉnh 100% đô thị có quy hoạch chung được duyệt; gần 95% số xã có quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Các thành phố trực thuộc trung ương đã và đang lập quy hoạch xây dựng chuyên ngành về thoát nước và xử lý chất thải rắn; quy hoạch thoát nước và xửu lý chất thải rắn của 4 vùng kinh tế trọng điểm (Bắc bộ, Trung bộ, Đong Nam bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long) và 3 cùng lưu vực sông (lưu vực sông Cầu; lưu vực sông Nhuê – Đáy và lưu vực sông Đồng Nai) cũng đã lập và được phê duyệt.

Tuy nhiên, việc tổng hợp, phân tích và đánh giá hiện trạng về khối lượng bùn thải, công tác thu gom, vận chuyển; dự báo khối lượng bùn thải phát sinh từ HTTN và công trình vệ sinh còn thiếu…. Việc xác định vị trí, quy mô và địa điểm xử lý bùn thải hầu như chưa có và nếu có cũng chưa kết hợp với việc xử lý công trình riêng; công nghệ xử lý chưa được khuyến cáo trong cá quy hoạch. Đồng thời, thiếu quy hoạch các khu vực đổ vả và xử lý đang là những khó khăn trong thực tế triển khai.

  • Về khối lượng thu gom.


Tại TP.HCM, tính đến năm 2015 trên địa bàn thành phố khối lượng bùn thải phát sinh từ các nhà máy xửu lý nước thải thu gom được: Trạm XLTN Tân Quy Đông với công suất 500m3/ngày đêm; nhà máy XLNT Bình Hưng hòa với công suất 30.000m3/ngày đêm; nhà máy XLNT Bình Hưng có công suất 141.000 m3/ngày đêm. Khối lượng bùn thải phát sinh từ các nhà máy/trạm XLNT này khoảng 40 m3/ngày.

Bùn thải từ nhà máy sản xuất cà phê sau khi ép bằng máy ép bùn khung bản Western Filter Tech

Bùn thải từ các công trình vệ sinh (bể tự hoại): Theo số liệu của Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng (2017), lượng bùn thải từ bể tự hoại tại các đô thị dao động từu vài trăm m3/năm đến trên 200.000 m3/năm. Tuy nhiên lượng bùn thu gom cũng rất hạn chế, tỷ lệ thu gom có biên độ dao động lớn, từ 3% đến 97%, tỷ lệ thu gom trung bình chỉ đạt khoảng 32%. Lượng bùn bể tự hoại được thu gom có thể lớn hơn do có nhiều doanh nghiệp, đơn vị cung cấp dịch vụ hút bùn vể tự hoại ở quy mô nhỏ lẻ. Số liệu về hoạt động của nhóm này khó cập nhập do các đơn vị này không tham gia trong các hiệp hội hoặc có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước.

  • Về thu gom, vận chuyển bùn thải từ HTTN và công trình vệ sinh.

Thành phần của các loại bùn thải rất khác nhau, ví dụ bùn thải từ mạng lưới thoát nước và bùn nạo vét kênh rạch chứa chủ yếu là cát và đất trong khi bùn thải từ cá trạm/ nhà máy XLNT và bể tự hoại chưa chủ yếu là các chất hữu cơ. Hiện nay bùn thải từ hoạt động nạo vét cống rãnh, kênh rạch và bùn bể tự hoại được vẫn chuyển bằng xe chuyên dụng và xà lan (bùn nạo vét kênh rạch). Bùn thải từ các trạm/nhà máy XNT sinh hoạt/ đô thị tập trung sau khi tách nước (làm khô) được vận chuyển đến các bãi chôn lấp.

Công tác nạo vét bùn từ mạng lưới thoát nước nhiều đô thị vừa và nhỏ vẫn còn sử dụng phương pháp thủ công, nhiều đô thị lớn bước đầu sử dụng cơ giới hóa. Phương pháp thủ công có năng suất thấp, không an toàn và gây nguy hại đến sức khỏe công nhân thoát nước. Do đặc điểm các đô thị Việt Nam là đô thị cũ, đô thị cải tạo và mở rộng; cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế trong khi mật độ dân số cao. Việc thông hút, vận tải bùn từ bể tự hoại của các hộ dân cực kỳ khó khăn (khó tiếp cận) mặt khác phương tiện hút và vận chuyển cũ, thiếu thón không đảm bảo vệ sinh moi trường và không phù hợp với điều kiện hạ tầng kỹ thuật.

  • Về công nghệ xử lý bùn thải.

Việc xử lý kết hợp bùn thải từ bể tự hoại với bùn thải từ HTTN được thực hiện ở một số nước Châu Á, Châu Phi hoặc tại một số nước phát triển toàn bộ chất thải từ HTTN và các công trình vệ sinh được tập trung về nhà máy XLNT để xử lý. Tuy nhiên, việc xây dựng và vận hành HTXL này tốn kém và yêu cầu trình độ quản lý cao. Ở Việt Nam bước đầu đã áp dung một số công nghệ xử lý bùn thải chi phí thấp. Nhiều sản phẩm được sản xuất từ bùn thải được sử dụng làm vật liệu xây dựng, sử dụng trong nông nghiệp, ngoài ra việc tái sử dụng bùn thải nhằm tiết kiệm năng lượng… Tuy nhiên, việc lựa chọn công nghệ cho phù hợp, đáp ứng các yêu cầu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện đang còn để ngỏ.

  • Quản lý nhà nước về bùn thải từ HTTN và công trình vệ sinh.

Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 6/8/2014 của Chính phủ về Thoát nước và XLNT đã có một số điều quy định về quản lý bùn thải từ HTTN; quản lý bùn thải từ bể tự hoại cũng như các quy định về tái sử dụng bùn thải. Thông tư 04/2015/TT-BXD ngày 3/4/2015 Hướng dẫn thi hành một số điều của NDD80/2014 đã quy định khá chi tiết và cụ thể hóa về quản lý bùn thải từ hệ thống thoát nước và quản lý bùn thải tự hoại. Đây là văn bản pháp lý quan trọng để quản lý lĩnh vực này.

Tuy nhiên, nhiều vấn dề còn thiếu cần phải được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện đó là: Cụ thể hóa các tiêu chí lựa chọn công nghệ xử lý bùn thải; Các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ…; Các chỉ tiêu và các định mức kinh tế, kỹ thuật cho thu gom, vận chuyển, xử lý bùn thải; Các vấn đề liên quan đến đầu tư, tài chính (giá xử lý, chi phí quản lý, khai thác, vận hành…).

Ngoài các doanh nghiệp thoát nước và môi trường đô thị hiện nay ở cá thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh có rất nhiều đơn vị tư nhân tham gia vào dịch vụ thông hút bùn từ bể tự hoại. Các doanh nghiệp nhà nước có thế mạnh là được trang bị các phương tiện chuyên dùng có công suất và dung tích lớn, chi phí thấp nhưng hạn chế là chất lượng dịch vụ trong khi đó các đơn vị tư nhân có các phương pháp tiện nhỏ, linh hoạt, cơ động chất lượng dịch vụ cao hơn và đi kèm chi phí cao hơn việc chaaos hành cá quy định về đổ, xả và xử lý của các đơn vị này (thường đổ trực tiếp ra môi trường) đang là một vấn đề cần được kiểm soát chặt chẽ.

        3. Đề xuất các giải pháp.

  • Cần có các nghiên cứu tổng thể về quản lý bùn thải trong đó bao gồm: Điều tra, khảo sát tình hình quản lý bùn thải tại các địa phương; Các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tài chính; quản lý xây dựng; ứng dụng công nghệ mới; chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật; định mức đơn giá; các chi phi… đến tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, sô tảy hướng dẫn thực hiện.
  • Nghiên cứu bổ sung nội dung quản lý bùn thải trong các quy hoạch đô thi, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật có liên qua.
  • Nghiên cứu áp dụng công nghệ mới trong xử lý bùn thải hướng tới giảm tối đa việc chôn lấp kết hợp yếu tố môi trương, kinh tế và tiết kiệm năng lượng để đưa ra các công nghệ thích hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường.
  • Xây dựng cơ sở dữ liệu về bùn thải: điều tra, thu thập vè số liệu về bùn thải phát sinh trong đó làm rõ loại bùn thải cần phải xử lý; bùn thải có khả năng tái chế, tái sử dụng…
  • Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng trong ý thức chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra.
  • Mở rộng hợp tác quốc tế trong dầu từ, xây dựng, ứng dụng công nghệ và trao đổi học hỏi kinh nghiệm trong lĩnh vực airn lý bùn thải; đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ các cấp trong quản lý bùn thải.

Nguồn:

 – Quản lý bùn thải ở Việt Nam- Cơ hội để cải thiện, kỷ yếu Hội nghị  quốc tế về quản lý bùn thải từ hệ thống thoát nước và công trình vệ sinh tại Hà Nội 2015.

 – Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng (2017), Báo cáo tổng hợp tình hình quản lý bùn thải tại một số đô thị ở Việt Nam

 – Báo cáo của một số Công ty Môi trường.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *